Lần duy nhất tên được lưu lại trong sử sách lại chính là vào ngày nàng bị bêu đầu.
Đó là một ngày mùa đông năm Vĩnh Gia thứ hai mươi mốt. Tuyết rơi rất dày, những bông tuyết to bằng lông ngỗng từ trên bầu trời xám xịt rớt xuống, đậu trên bờ vai lạnh ngắt của ta, rồi nhanh chóng bị hơi ấm từ vũng máu dưới chân làm cho tan chảy.
Kinh thành Đại Chu đã thất thủ được ba ngày. Tiếng khóc than của bách tính, tiếng vó ngựa rầm rầm của phản quân và mùi khét nồng của những cung điện bị phóng hỏa vẫn còn vảng vất trong không khí. Ta cùng hơn mười nữ quyến còn sót lại của nhà họ Tô bị ép quỳ trên đài hành hình xây bằng đá xanh ở quảng trường phía Bắc. Dây thừng thô ráp siết chặt vào cổ tay, áo khoác sang trọng đã bị lột mất từ lâu, chỉ còn lại lớp đồ bên trong mỏng manh không đủ chống lại cái lạnh cắt da cắt thịt.
Phía sau ta, gã đao phủ lực lưỡng đang uể oải mài thanh đại đao sáng loáng vào tảng đá nhám. Tiếng “xoẹt xoẹt” ghê rợn ấy vang lên đều đặn, như từng tiếng đếm ngược của tử thần.
Cách đài hành hình không xa, dưới bóng một gốc tùng già quanh năm không héo úa, có ba bốn vị sử quan mặc áo bào xám đang ngồi. Họ dùng nghiên mực đóng băng và những ngón tay sưng tấy vì lạnh để vội vã ghi chép những dòng cuối cùng của triều đại cũ. Tiếng gió bạt mạng thổi qua quảng trường trống trải, vô tình mang theo giọng nói thấp thỏm, khàn đặc của bọn họ lọt vào tai ta.
“Ngươi xem, nữ tử quỳ ở hàng đầu tiên, chính là đích nữ của nhà họ Tô, Tô Thanh Dao đó sao?”
“Chính là nàng ta. Bản thảo của quan chép sử phòng bên cạnh đã khóa tên nàng rồi. Nghe nói năm đó Ninh vương Hàn Triệt thất thế, nhà họ Tô muốn tự bảo toàn nên đã nhẫn tâm hủy bỏ hôn ước, khiến hắn phải chịu đủ nhục nhã ở tông nhân phủ. Ninh vương hận thấu xương, sau này đến biên ải nắm binh quyền rồi lật ngược tình thế, một phần lớn nguyên nhân cũng là vì muốn bắt người phụ nữ này phải trả giá. Thật đúng là hồng nhan họa thủy, một lời từ hôn mà làm chôn vùi cả cơ nghiệp trăm năm của Đại Chu…”
Ta quỳ trên nền đá buốt giá, nghe những lời ấy mà khóe môi khẽ giật, dâng lên một cơn buồn nôn tột độ. Hồng nhan họa thủy? Vì ta từ hôn nên hắn mới tạo phản?
Lịch sử quả thực luôn do kẻ chiến thắng viết nên, và họ luôn cần một cái cớ thật ly kỳ, thật hợp lòng người để che đậy đi những mưu mô tr*n tr** ẩn trong lớp vỏ bọc đẹp đẽ của vương quyền. Hôn ước năm đó đúng là do nhà họ Tô chủ động hủy bỏ, nhưng Hàn Triệt tạo phản là vì lòng tham Hoàng vị của chính hắn, vì sự mục nát của hoàng thất dồn hắn vào đường cùng. Từ bao giờ mà một nữ tử khuê các không ra khỏi cửa lớn như ta lại có bản lĩnh xoay chuyển cả vận mệnh của một quốc gia?
Ta muốn quay đầu lại nhìn mấy vị sử quan kia, muốn lớn tiếng hỏi họ xem lương tâm của người chép sử nằm ở đâu. Nhưng ta chưa kịp nhúc nhích thì gã đao phủ phía sau đã dừng tay mài đao. Hắn ngậm một ngụm rượu mạnh trong miệng, dùng sức phun vào lưỡi đao to bản, rồi một bàn tay thô bạo túm lấy tóc ta, kéo giật về phía sau, để lộ ra chiếc cổ thanh mảnh.
“Giờ ngọ đã đến… trảm!”
Tiếng hô của giám trảm quan lạnh lùng vang lên. Một vệt sáng lạnh lẽo, bén ngót lóe lên trước mắt ta. Cảm giác đau đớn nhói lên ở cổ nhanh đến mức ta chưa kịp hét lên thì tầm nhìn của ta đột ngột xoay vòng. Ta nhìn thấy tuyết trắng, nhìn thấy gốc tùng già, và cuối cùng, nhìn thấy thân thể không đầu của chính mình trong bộ trung y trắng muốt đang đổ rạp xuống, máu loang ra nhuộm đỏ cả một vùng tuyết trắng.
Đầu ta rơi xuống đất, lăn vài vòng rồi dừng lại. Ý thức của ta giống như một ngọn nến gặp gió lớn, phụt tắt rồi hoàn toàn chìm vào bóng tối vĩnh hằng.
“Tiểu thư! Tiểu thư, mau tỉnh lại đi! Người lại gặp ác mộng rồi!”
Một tiếng gọi dồn dập cùng cái lắc vai mạnh mẽ xoa tan bóng tối. Ta bật người ngồi dậy trên chiếc giường chạm khắc hoa lê xa hoa, mồ hôi lạnh vã ra như tắm, lồng ngực phập phồng th* d*c, hai tay theo bản năng ôm chặt lấy cổ mình. Mịn màng, ấm áp, liền mạch. Không có vết chém, không có máu chảy.
Ta ngơ ngác nhìn quanh phòng. Trước mắt ta không có đài hành hình đẫm máu, không có đao phủ. Ánh nắng sớm mai thanh khiết len lỏi qua khung cửa sổ chạm rỗng, chiếu lên tấm màn lụa màu khói. Mùi trầm hương dịu nhẹ, thanh mát thoang thoảng trong không khí, hoàn toàn khác với mùi khét và mùi rỉ sắt nồng nặc trong Kinh thành ngày thất thủ.
“Chu ma ma…?” Giọng ta khản đặc, dường như vẫn còn vương sự lạnh lẽo từ lưỡi đao sắc bén kia.
“Là lão nô đây. Tiểu thư, người làm sao thế? Mấy ngày nay người cứ ngủ là lại mê sảng, khóc lóc đòi giữ đầu, làm lão nô hoảng sợ muốn chết.”
Chu ma ma mặc một chiếc áo màu xanh sẫm, khuôn mặt hiền từ đầy nếp nhăn ngập tràn sự lo lắng. Bà vội vàng vắt một chiếc khăn ấm, nhẹ nhàng lau đi lớp mồ hôi lạnh trên trán và cổ ta. Hơi ấm từ chiếc khăn khiến lý trí đang hỗn loạn của ta dần dần kéo trở về thực tại.
Ta cúi xuống nhìn bàn tay mình. Mềm mại, trắng trẻo, đầu ngón tay hồng hào nhuận sắc, không hề có những vết bầm tím do dây thừng trói buộc hay những vết nứt nẻ vì giá rét trên đài hành hình.
Ta bước xuống giường, đôi chân trần chạm vào tấm thảm lông cừu mềm mại, chạy vội đến bên chiếc gương đồng lớn đặt ở góc phòng. Thiếu nữ trong gương có khuôn mặt thanh tú, đôi mắt ngậm nước long lanh, làn da mịn màng như sứ không một tì vết. Đây là ta năm mười tám tuổi, thời điểm thanh xuân rực rỡ nhất, chứ không phải là người phụ nữ tóc tai rũ rượi, mặt mày u ám chờ c,h,ế,t trên pháp trường kia.
“Chu ma ma, hôm nay là ngày bao nhiêu? Năm nay là năm nào?” Ta nắm chặt lấy tay bà, giọng điệu gấp gáp đến mức khiến bà giật mình.
“Tiểu thư ngủ đến mụ mị đầu óc rồi sao? Năm nay là năm Vĩnh Gia thứ mười bốn, hôm nay là ngày mùng tám tháng ba.”
Chu ma ma vừa thu dọn chăn màn vừa lẩm bẩm, “Mùa xuân năm nay ấm áp hơn mọi năm, hoa đào ở ngoại ô đã nở rộ rồi.”
Vĩnh Gia thứ mười mươi bốn. Bảy năm trước khi phản quân phá thành. Ta ngồi phịch xuống chiếc ghế tròn bằng gỗ trắc, tim đập liên hồi như trống trận. Ta đã sống lại sao? Thần phật thương xót, hay là một trò đùa của số phận đã cho ta một cơ hội quay về quá khứ để thay đổi vận mệnh của chính mình và gia tộc?
Ta nhắm mắt lại, ép mình phải bình tĩnh. Từ nhỏ, ta đã được nuôi dạy theo quy chuẩn khắt khe của một đích nữ thế gia. Cha ta là Thái thường tự khanh, nhà họ Tô luôn giữ thái độ trung lập trong triều đình, không kết bè kết phái, không tham gia vào các cuộc tranh đấu giành quyền lực của các Hoàng tử. Ta được dạy rằng: Làm người phải thực tế, biết nhìn nhận thời thế, cân nhắc lợi hại để bảo toàn gia tộc.
Chính vì cái gọi là “lý trí và cân nhắc lợi hại” ấy, nên ở kiếp trước, ba năm sau khi Ninh vương Hàn Triệt bị tước đi vương vị, cha ta sợ ngọn lửa hoàng quyền thiêu rụi nhà họ Tô nên đã dâng sớ xin hủy bỏ hôn ước giữa ta và hắn.
Lúc bấy giờ, ta cũng đồng thuận với quyết định của cha. Đối với ta, Hàn Triệt là một người lạnh nhạt, âm hiểm, lòng dạ sâu không thấy đáy. Hắn là con của một cung nữ thấp hèn lỡ vận, từ nhỏ đã sống lầm lũi trong góc tối của Hoàng cung, chịu đủ sự ghẻ lạnh của Hoàng đế và sự sỉ nhục của các Hoàng tử khác. Hôn ước giữa ta và hắn vốn là do Thái hậu năm xưa thương hại nên mới thuận miệng ban hôn cho nhà họ Tô. Bản thân ta và hắn chưa từng có một ngày tình sâu ý nặng.
Khi hắn ngã xuống vực sâu, ta chọn cách đứng trên bờ cắt đứt sợi dây liên kết để tự bảo toàn mạng sống. Đó là lựa chọn thực tế nhất của một nữ tử thế gia. Nhưng ta không ngờ được, bốn năm sau đó, hắn từ biên ải trở về với tư cách là minh chủ của phản quân, g,i,ế,t sạch những kẻ từng phản bội hắn, bao gồm cả gia tộc của ta.
“Tiểu thư, người quên rồi sao? Hôm nay là ngày lành, người đã hẹn với Ninh vương điện hạ đến chùa Linh San dâng hương mà.”
Chu ma ma bước tới, lấy từ trong tủ ra một bộ váy lưu tiên màu xanh nhạt phối với áo khoác mỏng màu trắng, khẽ nhắc nhở.
Cái tên “Ninh vương Hàn Triệt” vừa vang lên khiến toàn thân ta khẽ run. Cảm giác lạnh lẽo từ lưỡi đao kiếp trước như một lần nữa quét qua gáy.
Hiện tại là năm Vĩnh Gia thứ mười bốn, nghĩa là Hàn Triệt vẫn còn là vị hoàng tử bị thất sủng nhất Kinh thành. Hắn chưa nắm binh quyền, chưa trở mình, và quan trọng nhất… ta vẫn chưa từ hôn với hắn. Ta đứng dậy đi đến bên cửa sổ, nhìn những khóm hải đường đang nở rộ ngoài sân. Gió xuân thổi qua, mang theo hương hoa ngào ngạt nhưng không làm dịu đi sự căng thẳng trong lòng.
Nếu ta đã trở lại mốc thời gian này, mục tiêu của ta phải thay đổi. Ta không thể từ hôn một cách tuyệt tình như kiếp trước để rồi chuốc lấy tai vạ diệt môn. Nhưng ta cũng không thể mù quáng gả cho hắn, kéo nhà họ Tô vào vũng lầy tranh giành tàn khốc giữa các đảng phái. Ta cần phải tìm một con đường dung hòa. Giữ khoảng cách an toàn, không chọc giận hắn, đóng tốt vai trò một vị hôn thê an phận rồi tìm cách khuyên nhủ cha dọn dẹp gia sản, xin từ quan về quê trước khi trận chiến giành ngôi báu nổ ra.
“Chu ma ma, chải đầu cho ta.”
Ta quay người lại, ánh mắt đã lấy lại sự bình tĩnh và lý trí vốn có, “Hôm nay chọn bộ y phục đơn giản một chút. Chúng ta đi gặp Ninh vương.”
Bàn cờ của kiếp này, ta phải đi thật cẩn thận. Mỗi một bước đi đều liên quan đến đầu trên cổ của mười mấy mạng người nhà họ Tô.
----
Xe ngựa của Tô phủ lăn bánh trên con đường đá gồ ghề dẫn ra ngoại ô kinh thành. Tiếng lục lạc treo dưới mái hiên xe kêu leng keng, va vào không gian tĩnh mịch của buổi sớm mai.
Ta vén một góc rèm lụa nhìn ra ngoài. Kinh thành năm Vĩnh Gia thứ mười bốn vẫn là một viễn cảnh phú quý rực rỡ, hai bên đường hàng quán san sát, thanh bình đến mức khiến người ta sinh ra ảo giác rằng sự thịnh vượng này sẽ kéo dài mãi mãi. Không ai biết được, sâu trong lòng đất của Kinh đô này, những mạch ngầm của cuộc tranh đoạt vương quyền đã bắt đầu rỉ máu.
Càng đi về phía núi Linh San, sương mù càng dày đặc. Ngọn núi này nằm trơ trọi ở phía Bắc ngoại thành, quanh năm bị bao phủ bởi một màn sương xám xịt, lạnh lẽo. Chùa Linh San tọa lạc trên đỉnh núi, vốn không phải là nơi sầm uất được các quý phụ kinh thành ưa chuộng, bởi đường lên núi vừa dốc lại vừa trơn.
Nhưng Hàn Triệt lại thích nơi này. Hoặc nói đúng hơn, một vị hoàng tử không có nhà mẹ đẻ chống lưng, bị hoàng đế lãng quên như hắn, chỉ có thể hẹn gặp vị hôn thê của mình ở những nơi hoang vắng thế này để tránh tai mắt của các phe phái khác.
Khi xe ngựa dừng lại dưới chân núi, Chu ma ma đỡ ta bước xuống. Cái lạnh ở vùng sương núi lập tức ùa vào khiến ta khẽ rùng mình, vội vàng siết chặt chiếc áo choàng dệt bằng gấm trắng.
“Tiểu thư, Tam hoàng tử điện hạ đã đợi ở đình hóng mát bên sườn núi từ sớm rồi.”
Phu xe của Tô phủ đi tiền trạm chạy về báo cáo, giọng điệu có phần cứng nhắc vì giá lạnh.
“Ta biết rồi. Ma ma cứ ở dưới này đợi ta, một mình ta lên đó là được.” Ta nhàn nhạt dặn dò.
“Nhưng…” Chu ma ma lo lắng nhìn con đường mòn cheo leo rồi lại nhìn sắc mặt có phần nhợt nhạt của ta, nhưng trước ánh mắt kiên định của ta, bà đành cúi đầu vâng lệnh. Một mình ta bước lên những bậc thang đá rêu phong. Tiếng giày thêu giẫm trên lá khô vang lên đều đặn. Càng đi lên cao, bóng dáng đình lục giác khuất sau rặng thông già càng hiện rõ. Và ta nhìn thấy Hàn Triệt ở đó.
Hắn ngồi nghiêng bên bàn đá, mặc một chiếc trường bào màu xanh đơn bạc, vạt áo hơi sờn cũ, mái tóc đen chỉ được cố định bằng một chiếc trâm gỗ giản dị. Vóc dáng hắn gầy gò, bờ vai gầy guộc như thể một cơn gió mạnh của núi rừng cũng có thể thổi bạt đi. Từ góc độ của ta, chỉ có thể nhìn thấy sườn mặt nghiêng nhợt nhạt, hàng mi dài rủ xuống che khuất đôi mắt, và bờ môi mỏng mím chặt không chút huyết sắc.
Nhìn bề ngoài, hắn hoàn toàn là một thiếu niên hoàng tộc thất thế, cô độc, ốm yếu và vô hại. Ai có thể ngờ được, bảy năm sau, chính đôi bàn tay gầy trơ xương đang cầm chén trà nguội kia sẽ cầm thanh kiếm lệnh, nhuốm máu của vạn người, giẫm lên xương cốt của các Hoàng huynh để bước l*n đ*nh cao vương quyền?
Ta hít một hơi thật sâu, đè nén nỗi sợ hãi đang cuộn trào trong lồng ngực, từ tốn bước vào đình.
“Thần nữ Tô Thanh Dao, tham kiến Ninh vương điện hạ.”
Ta khom người hành lễ, tà váy lưu tiên trải rộng trên nền đất ẩm. Giọng nói của ta giữ đúng chuẩn mực của một tiểu thư khuê các, cung kính, nhã nhặn, nhưng xa cách.
Chén trà trên tay Hàn Triệt khẽ khựng lại. Hắn từ từ ngẩng đầu lên. Khi đôi mắt hắn chạm vào ta, ta cảm thấy tim mình như lỡ một nhịp. Đó là một đôi mắt đen đặc, sâu thẳm như mực không một chút ánh sáng, giống như một đầm nước lạnh ngàn năm không chút gợn sóng. Nhưng trong khoảnh khắc nhìn thấy ta bằng xương bằng thịt đứng đó, sâu trong đáy mắt hắn đột ngột bùng lên cảm xúc cực kỳ phức tạp, có sự kinh hoàng, có sự khát khao điên cuồng, và cả một nỗi bi thương sâu như vực thẳm.
Biểu cảm đó lướt qua rất nhanh, nhanh đến mức nếu ta không phải là người đã c,h,ế,t một lần và đang cực kỳ cảnh giác, ta sẽ nghĩ rằng mình nhìn lầm.
“Thanh Dao, nàng đến rồi.”
Giọng hắn khàn đặc, có chút trầm thấp lạ thường so với tuổi mười chín của hắn hiện tại. Hàn Triệt đứng dậy, bước đến trước mặt ta. Theo thói quen, hắn đưa bàn tay gầy gò, các khớp xương lộ rõ ra định đỡ lấy cánh tay ta. Nhìn bàn tay ấy tiến lại gần, trong đầu ta đột nhiên hiện lên hình ảnh lưỡi đao sáng loáng ở kiếp trước. Bản năng sinh tồn khiến cơ thể ta tự động phản ứng trước cả lý trí. Ta vô thức rụt nhẹ người lại, lùi về sau nửa bước, né tránh cái chạm của hắn.
Không khí trong đình lục giác lập tức đông cứng lại. Bàn tay của Hàn Triệt khựng lại giữa không trung. Những ngón tay hắn khẽ run lên một biên độ rất nhỏ rồi từ từ nắm chặt lại. Ta ngước lên, thấy sắc mặt hắn càng thêm trắng bệch, đôi môi mỏng mím thành một đường thẳng tắp. Ánh mắt hắn nhìn ta lúc này không còn là sự dịu dàng giả tạo của một vị hôn phu, mà là sự lạnh lẽo tột cùng, xen lẫn một nỗi thất vọng sâu đến nghẹt thở.
“Điện hạ thứ lỗi, vừa rồi thần nữ đạp phải rêu trơn, không phải cố ý…”
Ta vội vàng cúi đầu, lòng bàn tay rịn ra một tầng mồ hôi mỏng, thầm mắng mình quá thiếu bình tĩnh. Đã quyết định không chọc giận hắn, vậy mà ngay cái gặp mặt đầu tiên đã lộ ra sơ hở.
Hàn Triệt không vạch trần lời nói dối vụng về của ta. Hắn thu tay về, giấu vào trong tay áo rộng, nhàn nhạt nói:
“Là ta đường đột. Đường núi lạnh giá, chúng ta vào trong thôi.”
Chúng ta sóng vai đi lên những bậc thang còn lại để đến chính điện của chùa Linh San. Hàn Triệt đi bên phải ta, bước đi của hắn rất chậm, thậm chí có chút nặng nề. Ta lén quan sát, nhận ra một điều bất thường. Cứ đi được khoảng mười bậc thang, bước chân hắn lại khẽ khựng lại, dường như chân trái hơi co rút, lông mày hắn nhíu chặt như thể đang phải chịu đựng một cơn đau âm ỉ từ tận trong xương tủy.
Một vị Hoàng tử mười chín tuổi, dù có không được yêu thương, cũng không nên có một cơ thể suy nhược đến mức này. Sắc mặt hắn nhợt nhạt, quầng thâm dưới mắt rất đậm, vẻ mặt mệt mỏi rã rời như thể đã nhiều ngày đêm không được chợp mắt.
“Dạo này sắc mặt Điện hạ không tốt, có phải trong người có chỗ nào không khoẻ? Thần nữ có quen biết một vị đại phu ở Hồi Xuân Đường, nếu điện hạ không chê…”
Ta thử thăm dò, cố gắng kéo lại bầu không khí hòa hoãn. Hàn Triệt vẫn nhìn thẳng về phía trước, giọng nói bình thản.
Đọc thêm nhiều Truyện Full tại: https://truyenfull.live
“Không cần phiền phức. Chỉ là dạo này chứng mất ngủ trở nặng, mỗi khi nhắm mắt lại thường hay mơ thấy những chuyện quái lạ, thành ra tinh thần có chút hoảng hốt.”
“Mơ thấy chuyện quái lạ sao?” Tim ta nảy lên một chút.
“Phải.”
Hàn Triệt đột ngột dừng bước trên bậc thang đá. Hắn quay sang, nhìn chằm chằm vào mắt ta. Khoảng cách giữa hai người rất gần, thậm chí ta có thể ngửi thấy mùi thuốc đắng ngắt hòa lẫn với mùi trầm hương thanh lạnh phát ra từ trên người hắn.
Ánh mắt hắn nóng rực một cách cuồng bạo, như muốn dùng ánh nhìn ấy để khảm sâu hình bóng ta vào trong tâm trí hắn. Hắn chậm rãi nói, từng chữ một như búa gõ vào lòng ta.
“Ta mơ thấy nàng, Thanh Dao. Ta mơ thấy nàng gả cho người khác, mơ thấy nàng bị thích khách ám sát ở một nơi xa xôi, mơ thấy nàng nhảy xuống hồ nước lạnh buốt… và mơ thấy nàng c,h,ế,t ngay trước mặt ta, máu nhuộm đỏ cả tuyết trắng, mà ta thì bất lực.”
Ầm ầm. Một tiếng sấm rền nổ vang trong đầu ta, tai ta ù đi, toàn thân lạnh ngắt từ đầu đến chân. Máu nhuộm đỏ cả tuyết trắng? Đó chẳng phải là cảnh tượng trên đài hành hình trong kiếp trước của ta sao? Chẳng lẽ Hàn Triệt cũng sống lại? Chẳng lẽ hắn cũng mang theo ký ức của kiếp trước giống như ta?
Nỗi sợ hãi tột cùng khiến ta suýt nữa thì quay người bỏ chạy. Nếu hắn đã sống lại, hắn biết rõ nhà họ Tô sẽ từ hôn, biết rõ ta sẽ phản bội hắn, vậy tại sao hắn còn đứng đây? Tại sao hắn không dùng quyền lực ẩn giấu của mình để bóp c,h,ế,t ta ngay từ bây giờ? Trong ánh mắt hắn nhìn ta lúc này, ngoài sự điên cuồng và chấp niệm ra, tại sao ta không tìm thấy chút oán hận nào của một kẻ bị phản bội?
“Điện hạ… thật khéo đùa. Thần nữ vẫn đang yên ổn đứng ở đây thế này, làm sao có thể…” Ta nghe thấy giọng nói của chính mình run rẩy, gượng gạo.
Hàn Triệt nhìn biểu cảm hoảng hốt của ta, khóe môi hắn khẽ cong lên một độ cong đầy cay đắng, hắn lẩm bẩm một câu cực kỳ quái lạ.
“Phải, đời này nàng vẫn đang đứng ở đây, ở ngay trước mặt ta. Chỉ cần nàng sống… vậy là tốt rồi.”
Hắn quay người tiếp tục đi lên. Ta nhìn bóng lưng gầy guộc nhưng thẳng tắp của hắn, trong lòng đầy thắc mắc và hoang mang. Câu nói “Đời này nàng vẫn đang đứng ở đây” là có ý gì? Tại sao lại là “đời này”?
Vào đến đại điện, mùi khói hương nghi ngút làm dịu đi phần nào bầu không khí căng thẳng. Ta quỳ trên đệm bồ đoàn trước bức tượng Phật tổ bằng đồng to lớn, nhắm mắt lại, thành tâm chắp tay cầu nguyện. Kiếp trước ta không tin thần phật, nhưng kiếp này, ta cầu xin Ngài cho nhà họ Tô một con đường sống.
Khi ta mở mắt ra, ta giật mình nhận ra Hàn Triệt không hề quỳ xuống. Hắn đứng thẳng bên cạnh ta, hai tay chắp sau lưng, bóng của hắn đổ dài trên nền đất, bao trùm lấy thân hình nhỏ bé của ta. Hắn không nhìn tượng Phật từ bi, mà ánh mắt đầy châm biếm, lạnh lùng và thách thức nhìn thẳng vào khuôn mặt ấy.
Hắn không tin thần phật. Trong mắt hắn, thần phật không cứu được người hắn muốn cứu, nên hắn chỉ tin vào chính mình. Hắn đứng đó, từ đầu đến cuối chỉ dùng ánh mắt tối tăm ấy dõi theo từng động tác của ta, như một con quỷ độc hành trong đêm tối đang canh giữ báu vật duy nhất của mình.
Sau khi dâng hương xong, Hàn Triệt tiễn ta trở lại xe ngựa dưới chân núi. Lúc này sương mù đã tan bớt, để lộ ra những vạt nắng xuân hanh hao. Trước khi ta bước lên càng xe, Hàn Triệt bỗng nhiên tiến lên một bước, nắm lấy tay áo của ta. Lần này hắn không chạm vào da thịt ta, chỉ giữ chặt vạt áo gấm.
“Thanh Dao.” Giọng hắn nghiêm trọng, sắc mặt nghiêm túc chưa từng có.
“Điện hạ có gì dặn dò?” Ta quay đầu lại.
“Tháng sau là Tết Đoan Ngọ.”
Hàn Triệt nhìn thẳng vào mắt ta, từng chữ thốt ra đều mang theo một sức nặng ngột ngạt, “Tuyệt đối, tuyệt đối đừng đi đến cầu Lạc Nhạn ở phía Nam kinh thành. Dù có bất kỳ ai rủ rê, dù có chuyện gì xảy ra, nàng cũng phải ở yên trong phủ cho ta. Nhớ kỹ chưa?”
Ta ngẩn người: “Tại sao? Cầu Lạc Nhạn là nơi thả đèn hoa đăng…”
“Không có tại sao cả!”
Hàn Triệt đột ngột nâng cao giọng, thô bạo ngắt lời ta. Đôi mắt hắn hằn lên những tia máu đỏ quét qua khuôn mặt ta khiến ta sợ hãi co rúm lại. Nhận ra bản thân làm ta hoảng sợ, hắn hít một hơi sâu, ép giọng mình dịu xuống một chút, nhưng sự điên cuồng trong đó vẫn không thể che giấu.
“Nghe lời ta. Nàng không được đến đó.”
Nói xong, hắn buông tà áo ta ra, không quay đầu lại mà sải bước đi thẳng vào trong màn sương mù đang một lần nữa tụ lại trên đường núi.
Ta ngồi vào trong khoang xe ngựa ấm áp, nhưng toàn thân vẫn không ngừng run rẩy. Cầu Lạc Nhạn? Dường như ở kiếp trước, vào Tết Đoan Ngọ năm Vĩnh Gia thứ mười bốn, quả thực ta có cùng nhóm tiểu thư thế gia đến đó xem thả đèn hoa đăng. Đêm đó rất vui, không hề có chuyện gì bất thường xảy ra cả.
Tại sao Hàn Triệt của đời này lại đưa ra một lời cảnh báo như vậy? Hắn đang nắm giữ bí mật gì? Hòn đá hoài nghi đã ném xuống, mặt hồ lý trí của ta bắt đầu vỡ vụn thành những gợn sóng kinh hoàng.